Lý thuyết đa thanh trong phân tích diễn ngôn

 

Nguyễn Đức Dân

về trang chủ

 

1.      Những khái niệm cơ bản

1.1.     Trong những công trình nghiên cứu ngôn ngữ học từ trước đến nay, hầu như đều mặc nhiên cho rằng trong mỗi phát ngôn thì có một và chỉ một người nói nghĩa là chỉ có một người là tác giả của phát ngôn đó.

Cái niềm tin tương tự như vậy cũng ngự trị lâu năm  trong lý luận văn học: Mỗi tác phẩm văn học chỉ có một giọng điệu. Đó là giọng điệu của tác giả. Mãi tới nửa đầu thế kỉ XX, năm 1934 trong công trình “diễn ngôn trong tiểu thuyết” (tiếng Nga)  nhà phê bình văn học người Nga Mikhail Bakhtin đề ra lý thuyết về tính đa thanh hay là đa giọng điệu (polyphony, heteroglossia) trong tác phẩm văn học thì quan niệm đó mới thay đổi. Nhà ngôn ngữ học người Pháp Oswald Ducrot đã vận dụng lý thuyết đa thanh vào phân tích diễn ngôn. Theo Bakhtin, trong mỗi tác phẩm văn học đều đồng thời xuất hiện nhiều giọng điệu và cũng không có những giọng điệu trội hơn chi phối những giọng điệu khác. Ông dùng lý thuyết này để phân tích tác phẩm văn học.

Trước hết thế nào là “đa thanh” trong lời nói? Quan sát đoạn sau của nhà báo MĐ:

Vào những năm1970-1971, trên chiến trường miền Nam. Chính quyền Sài Gòn tuyên bố “đã bình định xong 90% lãnh thổ”. 6 tỉnh miền Tây Nam Bộ lúc đó chỉ còn vài ba ấp và một số nơi ven rừng U Minh là thuộc quyền kiểm soát của ta.

Trong bối cảnh đó, mùa mưa năm 1971, địch huy động 3 trung đoàn bộ binh của sư đoàn 21 nguỵ, 2 giang đoàn có máy bay và pháo binh yểm trợ mở cuộc càn “nhổ cỏ U Minh” hòng tiêu diệt cơ quan đầu não của cộng sản ở vùng này.  (NB&CL, số 23, 12.1995)

Cả đoạn là lời nói của nhà báo MĐ, nhưng dòng cuối đã phạm một sai lầm mà nếu muốn là có thể qui kết … đã nói theo giọng điệu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn: Tại sao lại viết là “hòng tiêu diệt cơ quan đầu não của cộng sản…” mà không viết là “hòng tiêu diệt cơ quan đầu não của ta”? Nếu dùng từ cộng sản đúng như lời lẽ kẻ địch thì tại sao không để cụm từ “hòng tiêu diệt cơ quan đầu não của cộng sản ở vùng này” trong dấu ngoặc kép? Để một cụm từ trong dấu ngoặc kép là trích dẫn trực tiếp, lúc đó người viết không chịu trách nhiệm về phần đã trích dẫn nữa.

Vậy là với những quan điểm khác nhau có thể gọi cùng một sự vật bằng những từ ngữ khác nhau. Từ ngữ có thể phản ánh những giọng điệu khác nhau.

Trong một lời nói, một diễn từ của tôi ngày hôm nay có thể chứa đựng -vô tình hay có ý thức – những điều tôi đã nói, đã nghĩ trước đó, có thể từ nhiều năm trước đó. Khi nói năng, tôi không cần nói rõ trước đây tôi đã nghĩ như vậy, đã nói như vậy. Những điều đã nói, đã nghĩ ấy đan xen vào những điều tôi nói, tôi trình bầy ngày hôm nay. Nó là một giọng điệu không có tên tác giả nhưng lại đích thực là của tôi.

Nhiều ý kiến  của những người khác cũng được xuất hiện trong lời nói của tôi và thường thì cũng vẫn không có tên tác giả. Tri thức và những ý kiến của riêng tôi chỉ chiếm một phần trong lời nói của tôi. Còn lại là những tri thức và ý kiến của người khác mà tôi đã tiếp nhận. Ấy thế là xuất hiện hiện tượng đa thanh trong một diễn từ, trong một phát ngôn, và thậm chí trong một cụm từ. Nó tạo nên cái của tôi và cái của chúng ta, cái của anh và cái của người khác trong một lời nói.

1.2.     Phong cách trực tiếp và phong cách gián tiếp

Giọng điệu còn có thể biểu hiện bằng những phương thức nào nữa? Làm thế nào để nhấn mạnh điều mà người phát (hay người nói – từ đây viết tắt là Np) thể hiện đây là giọng điệu của ai?

Có một giai thoại về Giải Tấn, một học giả nổi tiếng ở đầu triều đại nhà Minh Trung Quốc. Ông hay nói thẳng khiến  nhiều lúc nhà vua chạnh lòng và để ý. Bởi vậy…

“Một lần vua truyền Tả thừa tướng nói một câu đúng sự thật còn Hữu thừa tướng nói một câu sai sự thật. Giải Tấn phải dùng một chữ nối hai câu đó thành một câu sai sự thật.

Tả thừa tướng nói:    (1) Hoàng đế ngồi trên ngai vàng

Hữu thừa tướng nói: (2) Chuột bắt mèo

Giải Tấn liền nối:     (3) Hoàng đế ngồi trên ngai vàng xem chuột bắt mèo.

Các quan trong triều thở phào: Giải Tấn đã thoát.

 Nhưng vua lại truyền một lệnh mới: Nay Giải Tấn hãy dùng một chữ khác để nối hai câu trên sao cho thành một câu đúng sự thật đi!

Các quan lo lắng: Liệu Giải Tấn phen này có thoát tội phạm thượng?

Giải Tấn cẩn thận hỏi thêm: “Tâu Bệ hạ: Câu thứ hai là câu nào?”. Vua đáp: Là câu “chuột bắt mèo”.

Giải Tấn ung dung nối:

(4) Hoàng đế ngồi trên ngai vàng nói chuột bắt mèo.

Một lần nữa Giải Tấn lại thoát.” (Theo NN&ĐS, số 6.1999)

Trong câu (3), Giải Tấn đã nhắc lại lời của hai thừa tướng theo phong cách gián tiếp, nghĩa là không có những dấu hiệu trích dẫn, nên chia sẻ quan điểm với họ. Từ xem đòi hỏi bổ ngữ là một điều đã xảy ra. Nhưng “chuột bắt mèo” là một điều không thể xảy ra, nên nó là một câu sai. Do vậy câu (3) sai.

Trong câu (4), chúng ta hiểu rằng Giải Tấn đã nhắc lại lời Tả thừa tướng và nhà vua theo phong cách trực tiếp, ông chỉ nhắc lại lời vua nghĩa là “chuột bắt mèo” được đặt trong dấu ngoặc kép khi viết. Bổ ngữ này của từ nói chỉ là lời nhà vua chứ không phải lời Giải Tấn nên ông không chia sẻ quan điểm với vua. Nhà vua là chủ ngôn (x.§1.3.3.3.) của lời “chuột bắt mèo” còn Giải Tấn chỉ là Np [/người nói] nên (4) là một câu đúng.

            Trong ngôn ngữ nói không có dấu ngoặc kép nên không rõ phần đứng sau từ  “nói” là trích dẫn trực tiếp hay gián tiếp. Do vậy có thể gây ra hiện tượng mơ hồ. So sánh:  

(5)  Tôi là người hấp tấp như anh đã nói.

(6)  Tôi là người hấp tấp như anh đã biết.

(7)  Con tôi không nghiện như anh nói.

Từ “nói” khiến câu (5) mơ hồ. Chúng ta không biết Np nói câu này có đặt là người hấp tấp trong dấu ngoặc kép hay không. Nếu có, là trích dẫn trực tiếp và không chia sẻ quan điểm với chủ ngôn. Nếu không, là trích dẫn gián tiếp và  chia sẻ quan điểm với chủ ngôn. 

Câu (6) rõ ràng. Chính Np nói câu (6) là chủ ngôn của “Tôi là người hấp tấp”. Và người này tin rằng người đối thoại có cùng quan điểm với mình.

Cụm từ không … như khiến câu (7) có hai cách hiểu: 1) Người đối thoại đã nói “Con anh/chị không nghiện”. Người nói câu (7) dùng từ “như” thể hiện sự đồng tình. 2) Người đối thoại đã nói “Con anh/chị đã nghiện” nhưng Np nói câu này bác bỏ.“Con tôi không nghiện”.

Lý thuyết của Bakhtin luôn luôn vận dụng cho văn bản, nghĩa là cho một chuỗi các phát ngôn chứ chưa bao giờ áp dụng cho từng phát ngôn riêng lẻ, mặc dù chúng liên kết nhau tạo nên một văn bản. Nói cách khác, lý thuyết của Bakhtin chưa hề nghi ngờ định đề “Trong mỗi phát ngôn riêng lẻ chỉ có một giọng điệu”.

1.3.  Oswald Ducrot và lý thuyết đa thanh

1.3.1.     Người đầu tiên phát triển và vận dụng lý thuyết đa thanh của Bakhtin vào phân tích diễn ngôn là nhà ngữ học người Pháp Oswald Ducrot. Vấn đề này lần đầu tiên được ông trình bày trong bài “Sự phân tích văn bản và ngôn ngữ học của sự phát ngôn” [8, chương 1] sau này được tác giả hệ thống lại, khái quát hơn trong chương VIII của [9]. Một trong những phát hiện quan trọng nhất của ông là trong một phát ngôn riêng lẻ có thể chứa nhiều giọng điệu khác nhau. Theo đó, một phần bất kỳ nào của diễn ngôn, ngay cả khi nó chỉ chứa một câu, cũng có thể là một cuộc thoại tường minh hoặc ngầm ẩn. Ông xây dựng cơ sở lý thuyết cũng như đi tìm những phương thức dựa trên cơ sở ngôn ngữ để phát hiện những giọng điệu này.

              Trong bài Sự hiệu chỉnh về đa thanh [10] Carel M., và Ducrot O. đã phát triển và giải thích rõ hơn một số điểm về lý thuyết đa thanh trình bày trong [9]. Ba vấn đề được đặt ra có liên quan với nhau. Đầu tiên họ giải thích và trình bày lại cho uyển chuyển hơn những khái niệm trung tâm của lý thuyết đa thanh. Sau đó hai tác giả chỉ ra rằng lý thuyết đa thanh cũng bao hàm lý thuyết các cụm ngữ nghĩa (The Theory of  Semantic Blocks) một trong những dạng thức của lý thuyết lập luận. Cuối cùng các tác giả nêu một vài hướng miêu tả một số hiện tượng liên quan đến sự ám chỉ trong phát ngôn.

 

1.3.2. Một vài quan điểm của O. Ducrot

1.3.2.1. Câu, phát ngôn sự phát ngôn

Câu (la phrase): Một đối tượng lý thuyết tồn tại trong ngữ pháp.

Phát ngôn (l’énoncé): Những dạng thức hiện tượng hóa của một câu mà chúng ta quan sát thấy trong lời nói.

Ví dụ (viết tắt: vd) Giả sử trong chay lễ cầu siêu, nếu nhà sư niệm một câu trong bài kinh, một phật tử đọc lại câu đó chúng ta sẽ được hai phát ngôn khác nhau. Và nếu câu trên được vị sư đọc trong ba buổi tụng sáng, chiều và tối, chúng ta cũng gặp ba phát ngôn khác nhau. Cùng một bài kinh, đọc vào ba buổi khác nhau, theo từ ngữ nhà Phật, sẽ là ba “biến” khác nhau. Vậy thì sự phân biệt này của Ducrot giống như trong quan niệm của Phật giáo.

Sự phát ngôn (l’énonciation): Theo O. Ducrot [9, tr.178], có ít nhất 3 cách hiểu về sự phát ngôn. Chúng ta chấp nhận cách hiểu sau:

            Mỗi khi xuất hiện một phát ngôn là một sự kiện được tạo thành. Sự phát ngôn là sự hiện thực hoá một phát ngôn. Và sự phát ngôn là một sự kiện có đặc điểm tức thời: chưa tồn tại khi người ta chưa nói và không còn tồn tại nữa sau khi đã nói xong. Trong “sự phát ngôn” không mang khái niệm hành vi ngôn ngữ cũng như khái niệm tác giả chủ thể của phát ngôn. Nghĩa là không cho rằng sự phát ngôn là hành vi ngôn ngữ của  một người để tạo ra một phát ngôn.

1.3.2.2.  Nghĩa ý nghĩa

          Liên quan đến sự phân biệt câu và phát ngôn là sự phân biệt nghĩa (signification) ý nghĩa (sens). Chúng ta nói nghĩa của câu ý nghĩa của phát ngôn.

            Nghĩa khác ý nghĩa về hai phương diện, cương vị phương pháp luận và bản chất của chúng.

Về cương vị phương pháp luận, nghĩa được hình thành theo những quy luật xác định trong một hệ thống lý thuyết ngữ nghĩa đã xây dựng, còn ý nghĩa sẽ xuất hiện trong những tình huống quan sát thấy sự kiện. Hai phát ngôn cùng xuất phát từ một câu và do đó có hai sự kiện cùng xuất phát từ một câu. Trong tình huống này một sự kiện có ý nghĩa thế này và nó được giải thích như thế này còn sự kiện kia, trong tình huống khác, lại có ý nghĩa khác và được giải thích theo cách khác.

Về bản chất, nghĩa và ý nghĩa khác nhau.

Theo truyền thống, ý nghĩa chính là nghĩa được làm rõ thêm bởi một số yếu tố tình huống. Hệ quả: Nghĩa là một bộ phận của ý nghĩa. O. Ducrot không quan niệm như vậy. Ông cho rằng: Biết nghĩa của câu làm nền tảng cho phát ngôn “P” là biết những gì sẽ xảy ra khi phát ngôn “P”. Còn ý nghĩa của phát ngôn “P” là một tập hợp những chỉ dẫn cung cấp cho mỗi người để giải thích về phát ngôn “P”. [9, tr.181]. Qua đó giúp chúng ta có những lập luận thích hợp.  Vd:

(A)–  Lấy cái này nhé?

  Nó quá dài.

(B) – Cái áo này đẹp đấy.

– Nó quá sặc sỡ. 

Trong cả hai cặp thoại trên, lời đáp đều theo khuôn “X (thì) quá A” mà ý nghĩa là sự chê bai nhưng hàm ý lại liên quan đến câu mở thoại. Ở  (A) câu mở thoại là hỏi ý kiến về sự lựa chọn nên sự chê bai dẫn tới hàm ý “không nên lấy cái này”, ở (B) câu mở thoại là một xác tín khẳng định nên sự chê bai dẫn tới hàm ý phủ định “Cái áo này không đẹp”. Hai lời đáp là hai phát ngôn của cùng một câu với sơ đồ cấu trúc:

(C) “X (thì) quá A”, ở đó: X là một đối tượng, còn A là một thuộc tính của X.

Câu (C) “X (thì) quá A” là một sơ đồ cấu trúc trừu tượng mà nghĩa của nó chứa một nội dung trừu tượng chứ không đề cập tới một đối tượng X cụ thể nào: X đã vượt quá A một ngưỡng nào đó.

Ý nghĩa của phát ngôn (C) cũng vậy, gồm một tập hợp những chỉ dẫn sau:

            a) X có thuộc tính A.

            b) Về thuộc tính thì X đã vượt quá A một ngưỡng nào đó, đây là một chứng cứ quyết định để dẫn tới kết luận (d) nêu ở dưới.

            c) Trước đó có một đánh giá k tường minh hoặc ngầm ẩn về X, hoặc có một yêu cầu đánh giá về X.

            d) Phát ngôn (C) để đánh giá về X theo hướng ngược lại với đánh giá trước đó (hoặc ngược lại với điều mà người đề nghị đánh giá chờ đợi). Kết quả là không tán thành k, khước từ kết luận k.

            Vậy thì, ý nghĩa không phải là những gì có được sau khi bổ sung vào nghĩa một số nội dung nào đó mà nó là một tổ hợp cấu thành từ tình huống diễn ngôn xuất phát từ những nội dung đặc thù có trong nghĩa. Như vậy, ý nghĩa cũng không trùng với tiền giả định.

            Ý nghĩa của phát ngôn (C) đã được miêu tả thành một tập hợp các chỉ dẫn. Một cách khái quát, ý nghĩa sự biểu hiện miêu tả của một phát ngôn.

Có những phương diện biểu hiện miêu tả khác nhau của một phát ngôn.

            Ý nghĩa cơ bản của phát ngôn (C) là không tán thành, khước từ một kết luận. Mỗi phát ngôn đều có một hiệu lực tại lời gắn với phát ngôn đó. Có thể là quyền lực phán xét (hành vi đánh giá, phê phán…), đòi hỏi nghĩa vụ thực hiện (hành vi mệnh lệnh, lời hứa…), đòi hỏi nghĩa vụ nói (hành vi hỏi, chất vấn…), cho phép được quyền thực hiện (hành vi cho phép, chấp nhận…).

            Ý nghĩa của phát ngôn có thể tạo ra một định hướng lập luận. Những biểu hiện miêu tả ý nghĩa này cũng chứa đựng những định hướng đó. Vd:

(D) – Có nên trợ cấp khó khăn cho em này không?

-      Bố nó thu nhập gần được 10 triệu mỗi tháng. Có lẽ không nên.

(E) – Có thể chọn cô này làm người mẫu thời trang được không?

- Cô này cao gần được 1m70. Có thể lắm chứ.

Phần đầu lời đáp trong hai cuộc thoại trên đều chung khuôn “gần được…” nhưng lại dẫn tới hai kết luận tình thái khác nhau: ở (D) là câu trả lời phủ định, còn ở (E) lại là câu trả lời sự khẳng định.

1.3.3.3. Người nói chủ ngôn. Quan điểm cơ bản của O. Ducrot là: Mỗi diễn từ như một tập hợp các giọng điệu. Chúng được hiểu là sự mở rộng của các phát ngôn bằng cách thực hiện những hành vi ngôn ngữ của các chủ ngôn (P: locuteur) khác nhau. Các chủ ngôn này có thể là chủ ngữ logic của diễn từ, tức là người phát ra lời nói đó (P: sujet parlant, còn gọi là énonciateur), mà cũng có thể là của các nhân vật vắng mặt hay là của người sắm một vai trò nào đó.

Do vậy có sự phân biệt Np với chủ ngôn tức là người chịu trách nhiệm về những nội dung nào đó mà Np đã làm cái việc là nói chúng ra. Np ở đây có qui chiếu là tôi (/ta/tao…) ở ngôi thứ nhất trong phát ngôn và chịu trách nhiệm về cấu trúc ngữ dụng của lời nói. Nghĩa là người nói chịu trách nhiệm về một số hành vi ngôn ngữ, nhưng không phải là tất cả đồng thời là chủ ngôn liên đới có nghĩa vụ tham gia về trách nhiệm đối với hành vi của những chủ ngôn vắng mặt và không xác định.

Tất nhiên, trong diễn ngôn trực tiếp thì dù tôi có đứng ở chủ ngữ nhưng vẫn có thể không trỏ Np nói câu đó. Với câu

(1)  Ông Ba nói: Tôi đã tới.

thì tôi  đây chính là ông Ba chứ không phải là người phát ra câu này.

Cũng không phải cứ có tôi giữ chức năng chủ ngữ của một phát ngôn là Np cũng sẽ là chủ ngôn – chủ thể chịu trách nhiệm về nội dung thể hiện ở vị ngữ. Vd: A là người đã phê phán nặng nề B vô tích sự làm hỏng việc khi thực hiện lầm lẫn, sai sót một điều gì đấy. Và B phản ứng lại một cách tiêu cực: “Vâng, tôi một thằng vô tích sự. Nhưng để rồi xem…” Rõ ràng là từ tôi trong câu này trỏ chính B, người phát ra câu đó. Nhưng B lại không phải là chủ ngôn, người chịu trách nhiệm đích thực của nhận định “B là một thằng vô tích sự”. A mới là chủ ngôn của nhận định này, mặc dù nguyên văn lời nói của A  có thể  không hoàn toàn đúng như vậy mà chỉ là một lời nói có nội dung đại loại như vậy. Chính cái đoạn “nhưng để rồi xem…” đã cho ta biết thái độ của B: Anh ta không công nhận mình là một thằng vô tích sự.

Trong câu “Mai nói thằng Ba bảo: tôi không biết làm điều đó như thế nào” thì người nói là Mai, còn chủ ngôn của “tôi không biết làm điều đó như thế nào” chính là  người được gọi là “thằng Ba” và xưng “tôi”, một người khác với Mai.

Như vậy, có sự phân biệt người nói (/Np) với chủ ngôn.

Trong tiếng Việt sự phân biệt này được thấy rất rõ trong những câu chất vấn thể hiện sự nghi ngờ hay chất vấn-bác bỏ. Có đoạn thoại sau:

(2)  Np1: A

Np2: Liệu A được không?

Trong câu của Np2 thì Np1 là chủ ngôn của bộ phận A. Không cần cả đoạn thoại, chỉ  riêng câu “Liệu A được không?” là chúng ta biết được chủ ngôn của bộ phận A là một người khác với người nói câu này. Trong câu “Liệu tin người đó được không?” hẳn có người đã nói “tin người đó được”.

Khái quát: Khi nghi ngờ hay bác bỏ quan điểm, ý kiến của người khác thì những lời nói thể hiện quan điểm của một người khác có thể được xuất hiện trong lời nói của chính người phát. Sau đó, người phát mới thực hiện sự bác bỏ. Chủ ngôn trong phần bị nghi ngờ hay bác bỏ luôn luôn là ý kiến của người khác.

Chúng ta minh hoạ điều này qua những câu bác bỏ dùng phương thức chất vấn. Người ta luôn luôn chất vấn lời nói, quan điểm của người khác để bác bỏ nó. Do vậy, bộ phận bị chất vấn luôn luôn có chủ ngôn đích thực là một người khác với người phát.

      Trong tiếng Việt, có các tác tử chất vấn-bác bỏ “đâu có”, “có đâu”. Nghĩa là người nói câu “đâu có A” hoặc “có A đâu” đã bác bỏ A và chủ ngôn của A là một người khác. Vd:

(3)  (trưởng phòng tổ chức): Sao anh lại đem chuyện công ty mình nói với họ?

(4)  (nhân viên): Tôi đâu có đem chuyện công ty mình nói với họ.

Trưởng phòng tổ chức đề nghị giám đốc kỷ luật nhân viên nọ. Giám đốc biết chính xác ai là người đem tin tức công ty mình lộ ra ngoài nên can thiệp.

(5) (giám đốc): Anh ta đem chuyện công ty mình nói với họ đâu mà kỷ luật anh ấy. [Tôi biết ai là người đem tin tức công ty mình lộ ra ngoài.]

Trong câu 4 (nhân viên dùng tác tử đâu có để chất vấn bác-bỏ) cũng như trong câu 5 (giám đốc dùng tác tử có đâu để chất vấn bác bỏ) thì chủ ngôn của “đem chuyện công ty mình nói với họ” chính là trưởng phòng tổ chức.

Vị ngữ câu (5) có cấu trúc “có A đâu mà B”. Tác tử “mà” nối hai vế của câu. A là lý do khiến trưởng phòng tổ chức đề nghị B “(cần) kỷ luật anh ấy” nên trưởng phòng tổ chức cũng là chủ ngôn của B.

 Trong những câu chất vấn “A đâu mà B”, “Đâu có A B”,  thì  chủ ngôn  của  A và B đều không phải là người nói hai câu đó.

        

1.3.3.4. Hiện tượng đa chủ ngôn trong một phát ngôn. Đây không phải là hiện tượng giọng điệu tập thể, như giọng điệu của những đồng tác giả trong một bài báo, trong một quyển sách mà ta có thể thay tôi bằng chúng tôi, hay giọng điệu của cả một cộng đồng về một tục ngữ, một câu ca dao, một triết lý nào đó. Trong những trường hợp vừa dẫn, nhiều cá nhân nhưng có cùng một quan điểm, cùng một giọng điệu, nghĩa là chỉ có một chủ ngôn tinh thần. Vấn đề đặt ra ở đây là có thể tồn tại nhiều chủ ngôn tinh thần khác nhau trong một phát ngôn, trong một văn bản mà ta không thể lược bỏ đi một ai cả. Đó là những chủ ngôn sóng đôi.

Có những công cụ ngôn ngữ và phi ngôn ngữ tạo ra những chủ ngôn sóng đôi trong một phát ngôn.

Giả sử Ba nói: “Năm nói với tôi rằng tôi sẽ tới”. Đây chỉ là một phát ngôn. Trong phát ngôn này, hai từ tôi liên quan đến hai chủ ngôn khác nhau. Chủ ngôn của từ tôi thứ nhất là Ba, là người phát ra câu đó. Đây là chủ ngôn của toàn câu. Còn chủ ngôn của từ tôi thứ hai là Năm. Đây là chủ ngôn của phần bổ ngữ. Vd tương tự: “Hôm ấy có người đã nói với tôi rằng ở vào hoàn cảnh đó tôi sẽ không từ chối thẳng thừng”. Vậy là tồn tại những phát ngôn có những chủ ngôn sóng đôi, ở đó mỗi chủ ngôn chịu trách nhiệm về một phần nội dung  nhất định  trong phát ngôn đó.

Trong tiểu thuyết cũng vậy. Có người kể chính cho toàn bộ câu chuyện. Nhưng xen vào giữa chừng, cũng có lời của những người kể thứ yếu là chủ thể của một phần, của một đoạn nào đó.

Hiện tượng chủ ngôn sóng đôi còn được thấy trong một số trường hợp khác nữa.

Chúng ta có thể hình dung ra trong một vở kịch có những vai diễn mà trong lời nói của mình có nhắc lại lời người khác, kể cả nhắc lại một câu chuyện là những đoạn đối thoại của những người khác. Có những vở kịch trong một vở kịch. Lúc đó, ngoài cái tôi bao trùm cho cả một phát ngôn là những cái tôi chủ thể cho từng đoạn, từng phần.

Cũng có thể đó là trường hợp của người nói với tư cách phát ngôn viên của một cơ quan, một tổ chức hay một quan chức. Lúc đó, từ tôi khi thì chính là người đang nói, khi thì trỏ người mà người nói là phát ngôn viên cho người đó.

Hiện tượng chủ ngôn sóng đôi còn được tìm thấy trong những lối nói rút gọn, nhắc lại không hoàn toàn chính xác lời của người khác. Vd:

(6a)  (Lực): - Ơn của anh biết bao giờ em mới trả được.

(6b) (Dũng): - Ơn huệ gì!...(P.TTHH, t.27, VTV1)

Trong lời của Dũng, chủ ngôn của “ơn huệ” chính là toàn câu mà Lực đã nói trước đó.

(7a) Nói vậy cũng đúng thôi.

(8a) Anh ấy thế tốt.

Ở (7a) và (8a) đều có hai chủ ngôn phân biệt. Nếu tái hiện đầy đủ thì chúng thuộc hai vế khác nhau của một câu ghép:

(7b) Nói vậy thì cũng đúng thôi.

(8b) Anh ấy tuy thế  nhưng mà tốt.

Trong (7b), (8b), các từ vậy, thế đã thay thế cho lời một người khác. Suy ra trong các câu (7a), (8a) chủ ngôn của phần đứng sau những từ hư cũng, mà này đều là người phát ra câu đó.  Còn chủ ngôn của phần đứng trước chúng không trùng với người phát.

Trong lối nói đay, lối nói nhái lại cũng có thể tồn tại những chủ ngôn sóng đôi. Vd:

(9) “- Trong bộ đội anh làm gì để được lon thiếu tá?

  - Thiếu gì việc chú. Cháu làm đủ thứ.

  - Người ta đi bộ đội để đánh giặc còn anh thì làm đủ thứ!”

                                           (Phim Ngôi nhà xưa hoang vắng)

Trong câu cuối của đoạn trên, ông chú đã  nhắc lại lời người cháu “làm đủ thứ” bằng một ngữ điệu nhấn mạnh đặc biệt nhằm tạo ra lối nói đay thể hiện sự không đồng tình của mình, nên ông cũng là một chủ ngôn. Vì vậy trong câu này có hai chủ ngôn, một là ông chú làm chủ ngôn của toàn câu, một là người cháu làm chủ ngôn của bộ phận bị đay lại làm đủ thứ “.

1.3.3.5. Chủ ngôn không trùng với người phát thường xảy ra trong những tình huống nào?

Thường thấy rõ nhất trong những cuộc thoại, khi người ta cần nhắc lại lời của người đối thoại để thể hiện sự không đồng tình tạo ra lối nói đay lại. Không đồng tình ở một điểm nào đó bèn nhắc lại điểm đó và bác bỏ hoặc tranh luận tiếp. Một người hỏi, người nghe không đồng tình với lời hỏi bèn dùng từ vừa nghe được để chất vấn, hỏi lại và cũng có thể muốn thực sự hỏi lại cho rõ hơn …Những ví dụ:

(10)         “[Thịnh] – Em có niềm tin Quỷnh không phải là người như vậy.

[Vũ] – Niềm tin à? Một niềm tin mù quáng” (p. QBB, tập 22, VTV3)

(11)         “[người anh]: - Chắc nó mới đi đâu loanh quanh đây thôi.

        [Quỳnh]: - Đi đâu là đi đâu?

      “[người anh]: Cô ra bãi tha ma đầu làng mà tìm…” (p. QBB, tập 24, VTV3)

(12)         “ – Nãy giờ ông nghe thấy cái gì?

-         Nghe cái gì là nghe cái gì” (p. TTHH, tập 25¸VTV1)

1.3.3.6. Người nghe (auditeur) và người nhận đích thực (allocutaire)

Nếu như có sự phân biệt chủ ngôn và người phát thì cũng có sự phân biệt người nghengười nhận đích thực.

Có một chuyện cười như sau:

“Hai vợ  chồng cãi nhau, ông chồng quay sang chơi với con mèo.

- Đừng chơi với con heo đó làm gì! - Bà vợ hét lên.

- Đây là con mèo, thế mà gọi là con heo. – ông chồng cãi.

- Tôi đang nói với con mèo, anh xen vào làm gì!” (TTCT, 14.10.2018)

            Trong chuyện cười trên, người chồng là người nghe. Bà vợ cho rằng người nhận đích thực là…con mèo để ám chỉ người chồng chỉ là con lợn. Câu cuối cùng của người vợ đã nói trắng ra điều ám chỉ này. Cái hiện tượng mắng mèo quèo chó này thường thấy trong cuộc sống. Trong Bước đường cùng, Nguyễn Công Hoan đã cho vợ chồng anh Pha “trả đũa” người hàng xóm trương Thi, lấy tên bố đẻ của người này là Bạch đặt tên cho con trai. Mỗi lần mắng chửi con trai, thì ám chỉ người nhận đích thực lại là bố anh trương Thi hàng xóm. Chúng ta thường nghe những câu như “Không phải tôi nói anh mà là tôi nói người khác”. Vậy là, người nghe tuy là anh nhưng người nhận đích thực lại là người khác. Đó cũng là trường hợp của người phiên dịch. Hầu như người phiên dịch chỉ là người nghe để rồi dịch lại chứ không phải là người nhận đích thực.

            Thầy giáo nói với lớp trưởng: “Lớp ta còn 3 em Bách, Thìn và Linh chưa nộp tiểu luận. Ngày mai ba em đó phải mang tiểu luận nộp cho tôi”. Người nghe câu này là lớp trưởng, nhưng người nhận đích thực cái nội dung “phải mang tiểu luận nộp cho tôi” là “ba em đó”, tức là Bách, Thìn và Linh.

Nhiều khi nói cho ba bốn người cùng nghe, nhưng chỉ có một người nhận đích thực. Vd: Có thể nhiều người cùng nghe câu “Đây chẳng sợ ai cả!”, nhưng người nói chỉ nhắm vào một người nhận đích thực. Trong những tình huống cụ thể những người nghe có thể nhận ra người nhận đích thực là ai. Trong tiếng Việt có những cấu trúc mơ hồ về người nói, người nghe và người thứ ba. Câu đề nghị dưới đây có 5 cách hiểu:

(13)         Anh cho Hà đi với Sơn nhé.

13a) Người xưng “anh” nói với Hà, còn Sơn là người thứ ba.

13b) Người xưng “anh” nói với Sơn, còn Hà là người thứ ba.

13c) Người xưng Hà nói với người được gọi là “anh”, còn Sơn là người thứ ba.

13d) Người xưng Sơn nói với người được gọi là “anh”, còn Hà là người thứ ba.

13e) Có một người nào đó nói với người được gọi là “anh”, còn Hà và Sơn là người thứ ba.

            Trong một vở kịch các diễn viên trên sân khấu nói và nghe với nhau, nhưng có nhiều câu người nhận đích thực lại là khán giả đang xem vở diễn.

 

2.     Những cấu trúc ngôn ngữ và hiện tượng đa thanh

2.1.     Có những cấu trúc ngôn ngữ mà chủ ngôn của từng bộ phận luôn luôn được xác định, chúng độc lập với chủ quan của người viết. Trong các công trình [2], [5], [6, t.17-27], [7, §4.3., t.277-301] chúng tôi đã trình bày và phân tích nhiều ví dụ về những hiện tượng này.

Trong tiếng Việt có những cấu trúc trừu tượng xác định được chủ ngôn từng bộ phận. Trong [6] chúng tôi đã định nghĩa: “cấu trúc ngôn ngữ  chỉ chứa những yếu tố khái quát trống nghĩa  và những yếu tố không phải là thực từ  (danh từ, tính từ , động từ …) mà chỉ là những từ hư  cấu trúc trừu tượng.  Vd: “A thì A”; “A gì mà  B  thế?”,  “A không X thì còn ai X”…

2.2.     Chủ ngôn một bộ phận  không trùng với Np qua một số cấu trúc trừu tượng dùng thì mà.

2.2.1.      A thì A; A(x) thì A , với x = {sao, mấy, gì, đâu, nào}

Ở hai cấu trúc này, chủ ngôn của bộ phận A thứ nhất thường là một đề nghị, một yêu cầu của một ai đó. Np chấp nhận A. Vd: “Ăn thật nhá! Ừ ăn thì ăn, sợ gì.” (Kim Lân, Vợ nhặt) Đây là câu mà người “vợ nhặt” trả lời khi anh Tràng bảo người này ăn. “Già mấy thì già, thế mà cũng có người yêu say đắm đấy.” (Nguyễn Khải, Mùa lạc)

2.2.2.     Nào thì A. Người nói câu này chấp nhận lời đề nghị A của một ai đó. Như vậy, chủ ngôn của bộ phận A là một người khác.

2.2.3.     A thì cũng B.  Có một ai đó là chủ ngôn bộ phận A trong câu này với hàm ý nếu xảy ra A (hoặc hệ quả của nó) sẽ trở ngại cho B xảy ra. Người nói câu này không chấp nhận hàm ý đó. Vd:  “Chó con tao cũng mua” (TĐ)

2.2.4. A gì mà A. 

Đây là HV chất vấn A để bác bỏ một khẳng định A (hoặc lời đề cập tới A, thậm chí chỉ là một hành động thể hiện một điều A trước đó. [5, t.281]. Như vậy, người nói là chủ ngôn của bộ phận A thứ nhất, còn một ai đó là chủ ngôn của bộ phận A thứ hai. Vd:

“(vợ) - Đừng uống rượu nữa!//(chồng) - Kệ tôi.// - Kệ cái gì mà kệ!” (p. TTHH, t.26)

Trong lời người vợ, chủ ngôn của từ “kệ” thứ hai là của người chồng nát rượu.

Trong Tuyển tập truyện ngắn của Nguyễn Khải có một người cứ xưng ‘tôi’ khi giao tiếp  liền bị người kia bác bỏ: “Tôi gì mà tôi” với hàm ý không được xưng tôi, phải xưng “anh, em” hoặc “đồng chí”. Câu “Lạ chó gì mà lạ” (Bảo Ninh, Nỗi buồn chiến tranh) đã bác bỏ ý kiến của người nói trước đó cho sự tình xảy ra là lạ.

2.2.5. a)  A (mà) không x thì (còn) ai [/B nào] x?

Có một người cho rằng “A thì không x”. Np nhắc lại điều này rồi chất vấn-bác bỏ và tạo ra  hàm ý “A thì cực kỳ x”.

Vd 1.  Np: Lão này không tham nhũng thì còn ai tham nhũng?

Có người cho rằng “Lão này không tham nhũng”. Np chất vấn-bác bỏ và tạo ra hàm ý lão này vô cùng tham nhũng.

Vd 2. Np: Truyện Cánh đồng bất tận không hay thì còn truyện nào hay nữa?

 Có người cho rằng truyện Cánh đồng bất tận là bôi nhọ xã hội. Np đã nhắc lại nội dung của chủ ngôn (truyện Cánh đồng bất tận không hay) rồi chất vấn-bác bỏ để tạo ra hàm ý của câu này là truyện Cánh đồng bất tận cực hay.

Vd 3. Np: Bà xã nó không sư tử Hà Đông thì còn ai sư tử Hà Đông (nữa)?

 Một người nước ngoài khá rành tiếng Việt nghe câu này dù không biết “sư tử Hà Đông” có ẩn dụ gì vẫn có thể máy móc theo khuôn chất vấn-bác bỏ để suy ra được hàm ý của câu này là bà xã nó sư tử Hà Đông nhất.

        2.2.5.b)  A (mà) x thì (còn) ai [/B nào] không x?

Có một người cho rằng “A thì x”. Np đã chất vấn-bác bỏ điều này để tạo ra hàm ý A thì vô cùng không x.

Vd. Np: Cuộc hội thảo này vô bổ thì cuộc hội thảo nào không vô bổ? Hàm ý của Np là cuộc hội thảo này cực kỳ hữu ích.

2.2.6. A    B à?

            Đây là hành vi chất vấn, đưa ra chứng cứ B để bác bỏ có lời khẳng định A trước đó [6]. Như vậy chủ ngôn của A là một người khác.

Câu  “Yêu mà ki bo thế à” có hàm ý  ki bo thế không phải là yêu;  Câu “ thông minh mà vậy  à?” có hàm ý  “vậy  không phải là thông minh.”

2.2.7. Chủ ngôn trong câu hỏi “P à?” và “P ấy à?” khác nhau. “P ấy à?” là kiểu câu hỏi lại thông tin nên chủ ngôn của bộ phận P không phải là người nói câu đó. Còn người nói câu “P à?” cũng chính là chủ ngôn của bộ phận P. Điều này được minh họa qua hai câu dưới đây cùng một ngữ cảnh nhưng chỉ câu “P à?” chấp nhận được còn “P ấy à?” thì không.

(1)        Đang ngủ say bỗng tôi giật mình choàng dậy vì một tiếng nổ lớn. Chúng nó pháo kích à [/phải không]?

(2) Đang ngủ say bỗng tôi giật mình choàng dậy vì một tiếng nổ lớn. *Chúng nó pháo kích ấy à?

Trong câu (1), chủ ngôn của “chúng nó pháo kích” đồng nhất với người  hỏi câu  này. Đó là nhân vật “tôi” ở câu trước đó. Còn trong câu (2), cụm từ “ấy à” khiến chủ ngôn của “chúng nó pháo kích” phải khác với người  hỏi câu  này. Như vậy, ấy à là tín hiệu của một câu hỏi lại.

Khi hỏi lại, người nói có thể thay P bằng một cụm từ đồng qui chiếu với P:

(3)  - Tết này cậu có về làng Và không?

-   Về quê cô Khánh ấy à?

Trong (3), người hỏi lại đã dùng “quê cô Khánh” - một cụm từ được coi là đồng qui chiếu với “làng Và”- để hỏi lại.

Một cách khái quát, như Lê Đông (1997, 80) nhận xét về tiểu từ “ấy”, trong những câu hỏi ấy à, ấy ư, … có những đặc điểm ngữ nghĩa-ngữ dụng sau:

-         biểu thị sự trích dẫn và chỉ xuất phát ngôn.

-         nhấn mạnh thông qua sự phủ định mặt đối lập tương phản.

-         biến câu hỏi chứa nó thành một dạng câu hỏi về một phát ngôn khác.

 2.2.8. Vai trò của ngữ cảnh cho các câu hỏi P à? [/ư?/ nhỉ?/ nhé?/ chứ?]

(4)  Mẹ cháu không đi ư ?

(5)  Đúng [/chắc chắn] là mẹ cháu không đi chứ?

(6)  Mẹ cháu không đi, ông nhỉ?

            Nếu tách khỏi ngữ cảnh thì không thể xác định được chủ ngôn của “mẹ cháu không đi” trong hai câu (4), (5) là ai. “Cháu” có thể là lời của người xưng mà cũng có thể là lời của người hô gọi.

Từ “nhỉ” để hỏi về sự đồng tình của người được hỏi. Do vậy mà người nói câu (6) cũng đồng thời là chủ ngôn của “mẹ cháu không đi”.

           

3.             Lý thuyết đa thanh, hàm ý và sự lập luận

3.1. Quan hệ nhân quả và quan hệ nghịch nhân quả

Quan hệ nhân quả trong lập luận. Đó là những lập luận như: “Ở hiền (thì) gặp lành”, “Đời cha ăn mặn (thì) đời con khát nước”, “Có công mài sắt (thì) có ngày nên kim”… Đây là những lý lẽ mà “ai cũng thấy như vậy”.

Quan hệ nghịch nhân quả. Khái niệm nghịch nhân quả được chúng tôi đề cập trong [3]. Những từ ngữ trỏ quan hệ nghịch nhân quả sẽ đảo ngược định hướng nghĩa giữa hai vế câu và do đó đảo hướng lập luận cũng như tạo ra những câu có hàm ý. Các liên từ nhưng, mà trỏ quan hệ này kết hợp với liên từ thì trỏ quan hệ nhân quả đã tạo ra những cấu trúc trừu tượng trong tiếng Việt [6]. Một số trong đó liên quan tới chủ ngôn đã được trình bày ở phần §2.

3.2.     Định hướng lập luận và hàm ý (minh họa qua từ nhưng)  

3.2.1. Hàm ý  

(1) Người này từng bị vào tù.

(2)    Người này từng bị vào tù nhưng rất tốt.

Suy luận theo quan hệ nhân quả, người ta sẽ đánh giá tiêu cực với “người từng bị vào tù”. Như vậy, từ câu (1) chỉ có thể lập luận dẫn tới kết luận tiêu cực với “người từng bị vào tù” như: “Người này từng bị vào tù, không thể nhận vào cơ quan này được”. Trong khi đó, ở câu (2) cụm “rất tốt” đứng sau từ “nhưng” nên đã đảo ngược định hướng nghĩa. Do vậy chỉ có thể lập luận dẫn tới kết luận tích cực với “người từng bị vào tù” này: Người này từng bị vào tù nhưng rất tốt. Vẫn có thể nhận vào cơ quan này.”

(3)    Người này là đảng viên nhưng rất tốt.

Hai câu (2) và (3) có cấu trúc nghịch nhân quả và vế thứ hai giống nhau. Vậy vế thứ nhất câu (3) có định hướng nghĩa trái ngược với “rất tốt” là “không tốt”. Hệ từ trỏ quan hệ đồng nhất nên hàm ý ở câu (3) là “đảng viên thì không tốt”.  

(4)  Campuchia dù chỉ đoạt một huy chương vàng như Việt Nam nhưng lại nằm ở môn Olympic là taekwondo. (TT, 05.10.2014)

Câu (4) cho biết thành tích hai đội Campuchia và Việt Nam đều giành được một huy chương vàng và Việt Nam không được huy chương vàng ở môn thi đấu tại Olympic nhưng Campuchia lại được. Phần đứng sau từ nhưng được nhấn mạnh và tạo ra hàm ý của câu. Có một tiền giả định là huy chương vàng ở môn Olympic có giá trị hơn huy chương vàng ở môn khác. Vậy câu (4) có hàm ý  là “trong đại hội này, kết quả đội Việt Nam kém đội Campuchia”. 

3.2.2. Định hướng lập luận

Có hai mẹ con nói chuyện với nhau:

(5)    Mẹ: Thằng đó đẹp trai nhưng nghèo lắm con ơi!

(6)   Con gái: Anh ấy nghèo nhưng đẹp trai má à.

Trong lời mỗi người, mẹ cũng như con gái đều nhìn nhận người con trai có hai có hai thuộc tính đẹp trai và nghèo. Họ đều là chủ ngôn của hai vế trong lời mỗi người. Nhận định về người con trai trên bề mặt câu chữ thì giống nhau, nhưng hàm ý tạo ra từ phần đứng sau từ nhưng thì trái ngược nhau. Chúng định hướng cho lập luận của mỗi người. Theo quan hệ nhân quả, nghèo là thuộc tính không thuận lợi cho lựa chọn hôn nhân, nên định hướng lập luận tất yếu từ lời người mẹ là khuyên con gái “không nên tính chuyện hôn nhân với người con trai này”. Con gái đã cãi lời mẹ bằng cách cho từ “đẹp trai” đứng sau từ nhưng để nhấn mạnh thuộc tính này. Theo lẽ thường, đẹp trai là thuộc tính thuận lợi cho lựa chọn hôn nhân, nên định hướng lập luận tất yếu từ lời người con gái là “con vẫn muốn lấy anh ấy”.

Khái quát:

1) Hàm ý của câu “A nhưng B” luôn luôn được xác định một cách ngầm ẩn qua định hướng nghĩa của B, nó trái ngược với định hướng nghĩa của A. Điều này giúp chúng ta  xác định được thái độ hay định hướng lập luận của người nói.

2) Trong những cấu trúc nghịch nhân quả, luôn luôn có hai chủ ngôn, trong đó có một không trùng với người phát ra câu đó. 

Trong loại câu “A nhưng B” thì A luôn luôn là quan điểm của một người khác với người phát ra câu này. Nhờ ngữ cảnh của câu chúng ta biết được người đó là ai. Còn  B luôn luôn là quan điểm của người nói.

 

THAM KHẢO

1.      Đỗ Hữu Châu, Đại cương ngôn ngữ học, tập II: ngữ dụng học, nxb Giáo Dục, 2001.

2.      Nguyễn Đức Dân, 1984, Ngữ nghĩa các từ hư: định hướng nghĩa của từ, Ngôn ngữ, số 2.

3.      Nguyễn Đức Dân, 1984, Ngữ nghĩa các từ hư: nghĩa của cặp từ, Ngôn ngữ, số 4.

4.      Nguyễn Đức Dân, 2000, Hiện tượng đa thanh từ góc nhìn ngôn ngữ học; Văn học, số 3.

5.      Nguyễn Đức Dân, Logic và tiếng Việt, nxb Giáo dục, 1996.

6.      Nguyễn Đức Dân, 2012, Ngữ nghĩa các từ hư: nghĩa của cấu trúc trừu tượng, Ngôn ngữ, số 2.

7.      Nguyễn Đức Dân, Logic-ngữ nghĩa từ hư tiếng Việt, nxb Trẻ, 2016.  

8.      Oswald Ducrot. Les mots du discours, [chương 1: Analyse de texts et linguistique de l’énonciation, trang7-56], 1980, Ed.  Minuit, Paris.

9.      Oswald Ducrot. Le dire et le dit [chương VIII: Esquisse d’une Théorie polyphonique de l’énonciation, trang 171- 233], 1984, Ed.  Minuit, Paris.

10. Carel, M., & Ducrot, O.  Mise au point sur la polyphonie, Langue francaise, 2009/4, 33–43.

11. Lê Đông, Ngữ nghĩa – ngữ dụng câu hỏi chính danh tiếng Việt, Luận án PTS, ĐHTH Hà Nội, 1996.

 

                                                Dẫn liệu ngôn ngữ 

ML: Mùa lạc, Nguyễn Khải; QBB: phim VTV3, Quỳnh búp bê; TĐ: Tắt đèn, Ngô Tất Tố; TT: (báo) Tuổi trẻ; TTCT: tuần báo Tuổi trẻ cuối tuần; TTHH: phim VTV1, Trang trại hoa hồng

 

 

 

 

Tóm tắt

Lý thuyết đa thanh trong phân tích diễn ngôn

Từ khóa: cấu trúc trừu tượng, tính đa thanh, chủ ngôn, người nói, người nhận đích thực

Bài này giới thiệu lý thuyết đa thanh của O. Ducrot (phát triển lý thuyết của Bakhtin) trong phân tích diễn ngôn. Ông đưa ra luận điểm trong một phát ngôn riêng lẻ có thể có nhiều giọng điệu, tường minh hoặc ngầm ẩn. Ông phân biệt chủ thể phát ngôn (người nói hoặc người viết) với chủ ngôn, người chịu trách nhiệm phần từ ngữ được nói tới trong phát ngôn. Ông cũng phân biệt người nhận với người nhận đích thực. Tức là có thể có nhiều chủ ngôn trong một phát ngôn. Bài cũng trình bày những cấu trúc trừu tượng trong tiếng Việt, độc lập với ngữ cảnh, xác định được chủ ngôn không trùng với chủ thể phát ngôn.  

Abstract

Polyphonic theory in discourse analyse

Key words: abstract structures, polyphony, locutor, speaker, enunciator

 This paper introduces the polyphonic theory in discourse analysis developed by Oswald Ducrot – the extended Bakhtin’s Theory. The author argues that any piece of discourse, even when the discourse only contains one sentence, could explicitly or implicitly contain a dialogue. He distinguishes the actual producer of the utterance (i.e., a speaker or a writer) from the locutor, the source that is responsible for the words that are spoken in an utterance. He also makes a distinction between the receiver and the “enunciator”, the character that presents a perspective on the points of view referred to by a locutor. That is, there can be several locutors in an utterance. This paper also presents the abstract structures in the Vietnamese language where, regardless of the spoken contexts, the locutor is not the same as the actual producer of the utterance.